Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tín dụng

06/06/2021 08:47 83 lần Chuyên mục: Kiến thức luật kinh tế

Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tín dụng. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng khi câc bên có mâu thuẩn, bất đồng về việc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà không thể thương lượng giải quyết được.

Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tín dụng
Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tín dụng

1. Đặc điểm cơ bản của hợp đồng vay tín dụng – Hợp đồng vay.

Về chủ thể: chủ thể giao kết thực hiện hợp đồng tín dụng gồm bên cho vay và bên vay vốn;

Đối tượng: là một khoản tiền mà tổ chức tín dụng giao cho khách hàng vay sử dụng trong một khoản thời gian nào đó.

Về hình thức: quan hệ hợp đồng tín dụng bắt buộc được thể hiện bằng văn bản.

Về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng:: được thực hiện bằng một hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản, trừ những trường hợp cầm cố tài sản có tính chất đặc thù như chứng từ có giá, tiền gửi ngân hàng, kèm theo thủ tục đăng ký bảo đảm tiền vay.

2. Các dạng tranh chấp hợp đồng vay tín dụng phổ biến.

Theo quy định tại khoản 1 điều 30 BLTTDS 2015 quy định tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân không có đăng ký kinh doanh nhưng có mục đích lợi nhuận, cũng được xác định là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Các tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng khác là tranh chấp dân sự.

a. Tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng.

– Vô hiệu do yếu tố chủ thể:

+ Đối với bên cho vay là tổ chức tín dụng:  Người ký hợp đồng tín dụng không có thẩm quyền ký hoặc vượt quá thẩm quyền theo quy định của tổ chức tín dụng. Thông thường các tổ chức tín dụng sẻ có một văn bản là quy chế hoặc quy định do hội đồng quản trị, hội đồng thành viên ban hành để phân cấp thẩm quyền quyết định cấp tín dụng, người đại diện theo pháp luật sẻ có văn bản ủy quyền ký kết hợp đồng tín dụng trong một số trường hợp. Trường hợp vi phạm quy định này của tổ chức tín dụng, hợp đồng tín dụng đã ký có thể tuyên là vô hiệu.

+ Đối với bên vay là cá nhân: hợp đồng có thể vô hiệu do bên vay là người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế, có khó khăn hoặc người có năng lực hành vi dân sự nhưng tại thời điểm giao dịch không nhận thức và làm chủ hành vi .

+ Đối với bên vay là tổ chức: hợp đồng có thể vô hiệu khi người vay thay mặt bên vay đứng ra ký kết hợp đồng tín dụng nhưng không có văn bản ủy quyền hợp pháp của cấp có thẩm quyền của tổ chức đó.

– Vô hiệu do nguyên nhân từ đối tượng của hợp đồng ( đồng tiền cho vay).

+ Cho vay ngoại tệ: mà khách hàng cho vay ngoại tệ không đủ điều kiện cho vay ngoại tệ theo quy định của ngân hàng nhà nước.

+ Cho vay vàng: từ ngày 1/5/2011 việc cho vay vàng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng là không hợp pháp.

– Vô hiệu về hình thức của hợp đồng:

Pháp luật hiện hành quy định bắt buộc hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản. Trừ trường hợp các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì yêu cầu của một bên hoặc các bên tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó.

– Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật:

b, Tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ trả nợ:

Theo quy định tại khoản 2 điều 9 Thông tư số 02/2013 TT -NHNN quy định khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì toàn bộ nghĩa vụ bị vi phạm và các khoản nợ khác của khách hàng tại tổ chức tín dụng đó sẻ trở thành nợ quá hạn, tổ chức tín dụng có quyền áp dụng mức lãi xuất phạt quá hạn và thu hồi nợ trước hạn cho dù khoản nợ đó chưa đến hạn trả nợ.

c, Tranh chấp về lãi xuất:

3. Giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tín dụng thông qua Tòa án

Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) thì các bên trong tranh chấp có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.

Có hai trường hợp có thể xảy ra trong trường hợp này, được xác định như sau:

  • Tranh chấp được xác định là vụ án dân sự thông thường theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 nếu Hợp đồng tín dụng được xác lập giữa tổ chức tín dụng với cá nhân, tổ chức không có đăng ký kinh doanh, và bên vay không sử dụng việc cấp tín dụng vào mục đích kinh doanh thu lợi nhuận.
  • Tranh chấp được xác định là vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 nếu Hợp đồng tín dụng được xác lập giữa tổ chức tín dụng với cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận.

Trong cả hai trường hợp trên thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đều thuộc Tòa án Nhân dân cấp huyện theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015.

Ngoài ra, Tòa án Nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết xét xử theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc THẨM QUYỀN giải quyết của Tòa án Nhân dân cấp huyện mà Tòa án Nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án Nhân dân cấp huyện.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi. Nếu có thắc mắc về vấn đề trên hoặc Quý bạn đọc muốn được tư vấn trực tiếp.

………………………………………………………….

MỌI THÔNG TIN XIN VUI LÒNG LIÊN HỆ:

Bộ phận tư vấn :

Tell: 0931876355
Email: luatnamhaiinfo@gmail.com

Trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã đồng hành cùng chúng tôi!

>>Xem Thêm:

Căn cứ để cơ quan điều tra áp dụng biện pháp giữ người

Quyền Im lặng của Bị can, bị cáo được quy định như thế nào.

Luật sư tư vấn tranh chấp về xử lý vi phạm kỷ luật lao động

Tư vấn Pháp Luật lao động tại Tp. HCM – Xử lý Kỷ luật lao động

Tư vấn về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Luật sư tư vấn về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động