Hệ quả của việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

29/03/2022 20:04 146 lần Chuyên mục: Kiến thức luật lao động , Tin tức

Hệ quả của việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.. Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật không thuộc một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật lao động 2019. Vì vậy khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì hệ quả là người sử dụng lao động phải thanh toán, bồi thường gì cho người lao động và ngược lại.Hệ quả của việc chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

1. Những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động.

Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

Như vậy, người sử dung lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động, khi và chỉ khi có căn cứ chứng minh rằng người lao động không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động

Ví dụ hợp đồng lao động mà người lao động ký kết với công ty là nhân viên may, nhưng người lao động đã không hoàn thành công việc theo tiến độ, thời gian mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

Lý do thiên tai, dịch bênh là một trong những lý do mà được người sử dụng lao động căn cứ để chấm dứt hợp động lao động đối với người lao động trong những năm gần đây, nhưng lý do này người sử dụng lao động phải chứng minh được rằng họ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm giờ làm.

Ví dụ: Dịch covid 19 diễn ra tại địa bàn hồ chí minh, do biện pháp phong tỏa khiến doanh nghiệp phải đống cửa, mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục nhưng vẫn giảm chỗ làm việc do không có nguồn hàng.

2. Tuân thủ thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.

Như vậy tùy thuộc vào hợp đồng lao động mà người lao động ký kết là thời hạn bao nhiêu tháng mà người sử dụng lao động buộc phải báo trước cho người lao động trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Hệ quả của việc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái phải luật là gì.

Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Trên đây là một số phân tích của chúng tôi về quy định của pháp luật liên quan đến hệ quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Tuy nhiên tùy vào tình tiết, vụ việc khác nhau mà có những biện pháp cách thức xử lý khác nhau. Qúy khách có những vướng mắc nào cần luật sư giải đáp xin vui lòng liên hệ TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ: 0931.876.355.

Trân trọng/.

chich live | chichlive | kisslive | kiss live | yy live | yylive | xem truyen | xem truyện